Hiển thị các bài đăng có nhãn thuc-pham-dinh-duong. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn thuc-pham-dinh-duong. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Hai, 21 tháng 9, 2015
Chữa bệnh hô hấp từ quả lê
Quả lê rất giàu chất dinh dưỡng. Cứ 100g lê có 86,5g nước, 0,1g chất béo, 0,2g protein, 11g carbohydrat, 1,6g xơ, 14mg canxi, 13mg phospho, 0,5mg sắt, 0,2mg vitamin PP, các vitamin nhóm P, C, betacaroten, 1mg acid folic. So với các thức ăn thực vật, lê là loại có nhiều chất xơ có vai trò quan trọng trong tiêu hóa và chuyển hóa. các nhà phân phối dược phẩm
Sau đây là một số công thức dễ làm
Lê ép hoặc xay: uống tươi nguyên chất hoặc cho thêm đường hoặc sữa. Lê phải gọt vỏ, bỏ lõi. Để giải khát, chữa khô miệng, họng, ho khản tiếng.
Cao lê: lấy 1,5kg lê bỏ lõi và hạt, ninh nhừ, cho mật ong lượng vừa phải, trộn đều, đánh nhuyễn. Cho vào lọ ăn dần. Mỗi lần 2 thìa cà phê hòa vào nước sôi. Có thể dùng khi bị ho đờm lẫn máu, họng khô, khản tiếng.
Lê - gừng: Có thể đơn giản hóa công thức trên, chỉ có lê, gừng, mật ong, cách dùng như trên. Chữa ho có đờm đặc vàng.
Nước lê - ngó sen: Lê 500g gọt vỏ bỏ hạt, vắt lấy nước. Ngó sen 500g bỏ đốt, lọc vỏ, thái vụn vắt lấy nước. Trộn 2 thứ với nhau, uống thay nước, chữa ho khan, họng khô khát.
Lê - la hán: lê 1 quả, la hán 1/2 quả thái nhỏ sắc lấy nước uống. Có thể dùng thường xuyên đối với các ca sĩ, thầy cô giáo, người có âm hư nội nhiệt.
Lê - củ cải: Lê 1kg (bỏ hạt), củ cải trắng 1kg, gừng sống 250g, sữa đặc 250g, mật ong 250g. Cả lê, củ cải, gừng vắt nước riêng từng thứ, cho nước củ cải vào nồi nấu sôi mạnh rồi dịu xuống cho chín nhừ sền sệt như keo thì cho nước gừng, sữa nóng, mật ong khuấy đều, đun tiếp nhỏ lửa cho đến khi sôi thì bắc ra, để nguội cho vào bình. Thích hợp với chứng phế âm hư nhược, sốt về chiều, ho kéo dài, đờm ít và đặc, táo bón, tiểu tiện vàng và ít, suy nhược.
Lê - trần bì: 2 quả lê ép lấy nước sắc với 20g vỏ quýt khô lâu năm. Uống chữa ho khản tiếng, viêm họng mạn.
Lê - bách hợp: Lê 1 quả to, bách hợp 10 - 15g đều thái nhỏ, đường phèn vừa đủ. Tất cả đun sôi kỹ, ăn cái uống nước. Công thức này đơn giản, người xưa vẫn dùng trong trường hợp lao phổi thuộc âm hư (sốt nhẹ về chiều, má đỏ, ra mồ hôi, ho tức ngực, mạch vi).
Lê – hoa hồng – ngân nhĩ: Lê 2 quả, hoa hồng bạch 3 bông, ngân nhĩ 50g, bối mẫu 5g, đường phèn 100g. Lê thái miếng, hoa hồng rửa sạch, ngân nhĩ ngâm mềm, bối mẫu ngâm giấm. Cho nước nấu lê, ngân nhĩ, bối mẫu đường phèn trong 1/2 giờ. Sau đó cho hoa hồng nấu thêm chút nữa. Chủ trị phế hư, ho khan, khó thở, đoản hơi.
Lê – củ ấu: Nước lê, nước củ ấu, nước rễ cỏ tranh, nước ngó sen, nước đại mạch. Nấu lên uống nóng hoặc nguội. Tiêu đờm. Thông đại tiện.
Mứt lê thập cẩm: Lê 20 quả, ngó sen 1kg, cà rốt 1kg, mạch môn 100g, sinh địa 100g, rễ cỏ tranh 100g, mật ong 250g, mạch nha 150g, gừng tươi 50g. Luộc kỹ mạch môn, sinh địa, rễ cỏ tranh, lấy nước bỏ bã, lê bỏ vỏ hạt, ngó sen, cà rốt, gừng tươi giã vắt lấy nước. Tất cả trộn quấy đều cô đặc cho mật ong, mạch nha vào, cô quánh cho vào lọ dùng dần. Ngày sáng tối ngậm lần một thìa. Trị ho lao, đờm có máu, sốt về chiều, thổ huyết, ho lâu ngày mất tiếng...
Lê đường phèn: Cắt ngang phần núm, khoét bỏ lõi hột, cho mật ong hoặc đường phèn vào rồi chưng cách thủy chín, ăn cái uống nước. Dùng trường hợp “háo phổi” ho khan do phế nhiệt, phụ nữ có thai hay bị nôn.
Lê-đậu đen: Chọn trái lê to, cắt nắp, khoét bỏ hạt nhồi đầy đậu đen (đã ngâm mềm), đường phèn đậy nắp, om nhừ. Ăn tiêu đờm, hết ho hen khó thở.
Lê-xuyên bối: Lê gọt vỏ bỏ hạt, cắt núm, khoét bỏ lõi, cho 10g, bột xuyên bối mẫu, đường phèn 30g cho vào trong lê. Hấp ăn trong 1-2 lần sáng tối. Ho kéo dài, khan hoặc đờm đặc.
Lê-hà-sâm-hạnh: Vỏ lê 15g, hạnh nhân 5g, sa sâm 5g, lá dâu 10g, đường phèn 10g. Cho tất cả vào nồi nấu sắc lấy nước bỏ bã. Uống ngày 1 thang thay trà. Thường dùng chữa viêm phế quản (hạnh nhân bỏ mầm, vỏ lụa).
Lê-mía: Vỏ lê 10g, vỏ mía 15g. Sắc kỹ uống thay nước hằng ngày. Chữa viêm họng mạn.
Cháo lê: Lê 3-5 quả, gạo 60g. Lê thái nhỏ ép lấy nước cho vào cháo đã nấu nhừ, đánh đều, đun sôi lại. Ăn nóng, nếu nhiều nước lê, thêm nước đủ nấu cháo từ đầu. Chữa ho, suy nhược ở trẻ em, người già.
Lê-phổi heo: Phổi heo 250g thái nhỏ, lê 1 quả to bỏ hột, bối mẫu 10g cho vào nồi với nước vừa đủ. Nấu sôi rồi để lửa nhỏ 2 tiếng. Cho gia vị ăn nóng. Bổ phế trị ho, tiêu đờm cầm máu. Thích hợp người bị âm hư phế táo, nổi mụn, nổi hạch.
Lê thịt ngỗng: Thịt ngỗng (bỏ mỡ, da, chặt miếng) 250g, lê (loại to) 1 trái, bỏ hạt, bắc hạnh nhân 10g, bách hợp 30g. Tất cả cho vào nồi thêm nước vừa đủ, nấu sôi rồi lửa nhỏ, sôi tiếp 1 tiếng. Cho gia vị ăn nóng. Công dụng bổ hư, chữa ho kéo dài, viêm phế quản, nhuận phế, hóa đàm, trị ho có đờm lẫn máu lâu khỏi (hạnh nhân bỏ mầm, vỏ lụa).
Thường xuyên ăn lê phòng chữa được chứng hay mệt, sưng đau họng, lợi, lưỡi, đi tiểu vàng, táo bón, mắt sưng đỏ, phòng chữa bệnh tăng huyết áp thể can thượng cang hoặc hỏa thượng viêm...
Các bạn tham khảo một số sản phẩm của công ty chúng tôi:
Thứ Năm, 17 tháng 9, 2015
Những Cá chuối an thần, bổ khí huyết
dược phẩm phân phối - Theo y học cổ truyền, cá chuối (tên khác là cá lóc, cá sộp, cá quả,…) có vị ngọt, tính bình, không độc, có tác dụng bổ khí huyết, gân xương, trừ đàm, bồi bổ sức khỏe cho người cao tuổi, người mới ốm dậy... Dưới đây là một số món ăn, bài thuốc từ cá chuối để bạn đọc tham khảo và áp dụng:
Bài 1: Thanh nhiệt, sinh tân dịch, phòng và trị cảm nắng, nóng: Cá chuối 1 con 300g, làm sạch, cắt khúc, đậu bắp 40g, dứa 20g, cà chua 30g, giá đậu xanh 40g, gia vị vừa đủ, thêm nước nấu canh ăn.


Cá chuối nấu với đậu đỏ và bí đao có tác dụng thanh nhiệt.
Bài 2: Hỗ trợ điều trị lao phổi: Cá chuối 1 con khoảng 300g, gừng tươi 3 lát, gia vị vừa đủ. Cá làm sạch, cắt khúc, nêm gia vị, gừng tươi, thêm nước đun chín nhừ. Mỗi tuần ăn 2 - 3 lần.
Bài 3: Bổ não an thần, ích khí bổ huyết: Đầu cá chuối 300g, xuyên khung 12g, hà thủ ô chế 15g, hoàng kỳ 30g, táo đỏ 4 quả, gừng tươi 3 lát. Đầu cá bỏ mang, táo bỏ hạt, nước vừa đủ. Tất cả cho vào nồi nấu với lửa to. Khi sôi hầm 2 giờ với lửa nhỏ, thêm gia vị, ăn trong bữa cơm. Dùng thích hợp cho người cao tuổi sức yếu, trí nhớ suy giảm, mệt mỏi, kém ăn.
Bài 4: Chữa mồ hôi trộm ở trẻ: Cá chuối 100g, làm sạch, lóc lấy thịt, thái nhỏ, rán cho vàng thơm, nấu với 400ml nước còn 100ml, thêm gia vị, cho trẻ ăn cả cái lẫn nước trong ngày. Tuần ăn 2- 3 lần.
Bài 5: Thanh nhiệt, điều hòa dạ dày, tiêu thũng: Cá chuối 1 con 300g, đậu đỏ 50g, vỏ bí đao 30g. Cá làm sạch, cho vỏ bí đao vào bụng cá rồi nấu với đậu đỏ, đun tiếp 30 phút là dùng được, ăn cả cái lẫn nước. Ăn 3 -5 ngày.
Bài 6: Trị cảm lạnh: Cá chuối 500g, gạo tẻ 200g, gừng tươi vài lát. Cá làm sạch, luộc chín, gỡ lấy thịt, nấu với gạo thành cháo, thêm gia vị, gừng, ăn nóng cho ra mồ hôi... Dùng cho người bị cảm lạnh, sợ gió, đau đầu nghẹt mũi, ho đờm nhiều.
Bài 7: Bổ não, tăng trí nhớ, chữa đau đầu, hay quên: Cá chuối 1 con 500g, làm sạch, khứa xéo trên thân cá rồi ướp gừng, gia vị. Hấp cách thủy chín, ăn trong bữa cơm. Có thể ăn thường xuyên.
Bài 8: Hỗ trợ điều trị tăng huyết áp: Cá chuối làm sạch, luộc chín, gỡ lấy thịt 100g, rau cần ta 150g, gừng tươi, gia vị vừa đủ, nấu canh ăn tuần 2-3 lần. Dùng cho người bệnh tăng huyết áp, đau đầu chóng mặt, ù tai khó ngủ.
Các bạn có thể tham khảo một số sản phẩm của công ty chúng tôi
Thứ Ba, 8 tháng 9, 2015
Ăn gì trị táo bón
địa chỉ phân phối dược phẩm - Quá trình bài phân bình thường là thông qua 2 khâu kết tràng vận động và phản xạ bài phân để hoàn thành, bất kể các nhân tố nào ảnh hưởng tới 2 khâu nêu trên đều có thể dẫn tới táo bón.
Đông y cho rằng bí đi ngoài phần nhiều do đại tràng tích nhiệt, hoặc khí trệ, hoặc lạnh ngưng lại, hoặc âm dương khí huyết suy hư, khiến cho chức năng truyền dẫn của ruột già mất điều khiển. Ngoài ra, bế tắc của phế khí cũng có thể ảnh hưởng chức năng bài phân của đại tràng, cho nên Đông y lại có phương pháp thông qua tuyên thông phế khí để chữa trị bí đi ngoài.
Nguyên tắc ăn uống
- Nên ăn nhiều các thức ăn chứa nhiều chất xơ (xenlulose), như các loại rau và hoa quả tươi, các loại măng...
- Nên uống đủ nước 2 lít/ngày, giúp cho làm mềm phân.
- Ăn một số loại thức ăn có tác dụng nhuận tràng như mật ong, vừng, hạch đào, bơ, sữa trâu bò...
- Khi đun nấu món ăn, có thể cho tăng một chút dầu ăn, như dầu đậu, dầu hạt cải, dầu vừng, dầu lạc...
- Ăn một số thức ăn chứa vitamin nhóm B một cách thích hợp, như các loại đậu, lương thực thô, khoai lang, khoai tây..., để thúc đẩy nhu động ruột.
- Cấm kỵ các thức ăn loại kích thích như rượu mạnh, trà đặc, cà phê, hẹ, tỏi, ớt, ít ăn các thức ăn tanh mặn vị đậm.
Bài thuốc chọn lựa chữa trị bằng món ăn
- Nước sôi ấm một cốc, mỗi ngày vào buổi sáng sớm khi tỉnh dậy, uống lúc bụng đói, dùng cho người táo bón.
- Bắp cải 100g, dầu vừng vừa đủ, bắp cải dùng nước sôi chần chín, thêm dầu vừng trộn đều, dùng ăn cho người táo bón.
- Hạch đào nhân, vừng, mật ong, mỗi thứ 50g, hạch đào nhân đập vỡ, rang chín với vừng, sau cho vào mật ong, trộn đều dùng ăn, mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 2 thìa, dùng cho người già khí huyết không đầy đủ dẫn tới đi ngoài bí, váng đầu.
- Sinh thủ ô 30g, gạo tẻ 100g, thủ ô sắc nước đậu, bỏ bã, thêm gạo tẻ vào, lượng nước vừa đủ, nấu cháo, thêm gia vị dùng ăn, ngày 2 lần, dùng cho người táo bón, mất ngủ.
- Khoai tây 250g, giã nát ép lấy nước, mỗi ngày sớm dậy uống một thìa khi bụng đói, dùng cho người phân khô kết.
- Sữa trâu bò 250g, trứng gà 1 quả, mật ong vừa đủ, đập trứng gà vào sữa, đun sôi, để ấm, cho vào mật ong vừa đủ, uống hết, mỗi ngày buổi sớm uống một lần, dùng cho người táo bón.
- Măng trúc 250g, dầu đậu, hành, gừng, mì chính vừa đủ. Măng thái lát mỏng, xào với hành, gừng, dầu có thể cho nhiều một chút, sau khi chín thêm mì chính, muối, dùng cho người thường táo bón.
- Nhục thung dung 30g, hồ đào nhục 10g, gạo tẻ 100g. Nhục thung dung sắc nước, bỏ bã, thêm vào gạo tẻ và hồ đào nhục đã đập vụn, nấu thành cháo, ngày ăn 2 lần, mỗi lần 1 bát con, dùng cho người thận hư táo bón, đau lưng mỏi gối.
- Củ cải trắng 250g, rửa sạch gọt vỏ thái miếng, thêm nước nấu nhừ dùng ăn. Dùng cho người bị táo bón dạng thói quen.
- Mật ong 50g, dầu vừng 25g, dầu vừng đổ vào mật ong quấy đều, vừa khuấy vừa cho thêm nước sôi ấm khiến nó loãng thành dịch thể đều, thì có thể uống. Dùng cho người ruột khô táo bón, phân khô kết.
- Hạnh nhân 10g, gạo nếp 50g, hạnh nhân sắc đặc bỏ bã, cho gạo nếp vào nấu cháo dùng ăn, ngày 2 lần. Dùng cho người ho suyễn lâu ngày, táo bón.
- Ruột già lợn 1 đoạn, thăng ma 15g, vừng 100g, rửa sạch ruột già, nhồi thăng ma và vừng vào, hai đầu buộc chặt, cho vào trong nồi, thêm gừng tươi, rượu, muối vừa đủ, dùng nước ninh chín để ăn. Dùng cho người táo bón, lòi dom.
- Chuối tiêu 1 quả mỗi ngày ăn một lần.
- Quyết minh tử 30g, sắc uống thay trà, uống nhiều lần, dùng cho người mắt kém có táo bón.
Bệnh táo bón trên lâm sàng thấy rất nhiều, nhất là ở người già và người béo. Người bị táo bón ngoài số ít trường hợp do có bệnh ở đường ruột hoặc của bệnh của tạng khác đưa đến, đa số là dạng thói quen. Trong nhiều loại nguyên nhân, thì ăn uống đóng vai trò khá quan trọng. Theo kết quả nghiên cứu, chất xơ trong thực phẩm làm khối lượng phân tăng lên đáng kể sẽ kích thích vận động đường ruột, lại có thể bảo lưu thủy phần, tránh phân quá khô. Cho nên người bị táo bón nên thay đổi chế độ ăn, nên ăn nhiều rau chứa nhiều chất xơ, ngoài ra cần chú ý đi đại tiện kịp thời, không nên nhịn lâu để đề phòng táo bón. Lưu ý những người bị táo bón lâu ngày chữa không đỡ phải đi bệnh viện để tìm nguyên nhân gây bệnh và chữa trị kịp thời.
Các bạn có thể tham khảo thêm một số sản phẩm của công ty chúng tôi:
Thứ Tư, 19 tháng 8, 2015
Thực phẩm cho người bệnh tiểu đường
dược phẩm phân phối - Chứng đường huyết tăng cao là nguyên nhân gây ra biến chứng mạch máu ở người đái tháo đường. Trước đây, người ta nhận thấy tăng đường huyết khi đói (trước ăn) là nguyên nhân chủ yếu gây ra các biến chứng. Tuy nhiên gần đây, các nhà khoa học thấy rằng, tăng đường huyết sau ăn cũng là nguyên nhân quan trọng gây ra các biến chứng, đặc biệt là trên mạch máu lớn như nhồi máu cơ tim, đột quỵ, loét bàn chân. Vì vậy, người bệnh cần chú ý đến chỉ số đường huyết trong thức ăn hằng ngày.

Vậy chỉ số đường huyết là gì?
Như chúng ta đều biết, các loại thực phẩm sau khi ăn sẽ được tiêu hóa, hấp thu vào máu và làm tăng đường huyết gọi là phản ứng đường huyết. Mức độ tăng đường huyết tùy thuộc số lượng thực phẩm ăn vào, hàm lượng và loại chất bột đường (carbohydrate, glucid), thành phần chất đạm, chất béo, chất xơ chứa trong thực phẩm, cách chế biến… Như vậy, để đánh giá mức độ ảnh hưởng của thực phẩm làm tăng đường huyết nhanh, trung bình hay chậm, người ta phải chuẩn hóa thực phẩm với cùng một số lượng chất bột đường là 50gam như nhau và lấy đường glucose hay bánh mì trắng làm chuẩn với giá trị là 100, gọi là chỉ số đường huyết (glycemic index). Các loại thực phẩm làm tăng đường huyết nhanh có chỉ số đường huyết cao từ 70 trở lên, mà mức chỉ số đường huyết trung bình là từ 56 – 69, khi chỉ số đường huyết thấp dưới 55 là những loại thực phẩm làm tăng đường huyết chậm. Song, chỉ số đường huyết không tương ứng với vị ngọt, nghĩa là không phải ăn vào thấy ngọt sẽ làm tăng đường huyết: ví dụ bánh quy lạt có chỉ số đường huyết cao hơn bánh quy bơ ngọt bình thường. Độ ngọt (hay sức ngọt) cũng là một yếu tố rất cần được chú ý vì nhiều người cứ nghĩ đường có tính ngọt và ăn cái gì càng ngọt thì càng có nhiều chất đường, thực tế khác hẳn định kiến sai lầm đó. Ở người tiểu đường, khi ăn thực phẩm có chỉ số đường huyết trung bình và thấp sẽ cung cấp glucose chậm rãi và đều đặn vào máu, giúp duy trì lượng đường huyết một cách ổn định. Ngược lại, ăn thực phẩm có chỉ số đường huyết cao sẽ làm đường huyết tăng cao khó kiểm soát dẫn đến biến chứng của bệnh tiểu đường mau xảy ra.
Tuy nhiên, với người không bị tiểu đường, kết quả nhiều nghiên cứu khoa học cho thấy những người thường xuyên ăn các thực phẩm có chỉ số đường huyết thấp trong nhiều năm sẽ ít bị nguy cơ béo phì, đái đường type 2 và bệnh mạch vành. Nếu thường xuyên ăn các thực phẩm có chỉ số đường huyết cao sẽ làm tăng nguy cơ béo phì và chứng tiểu đường dễ rối loạn chuyển hóa.
Chỉ số đường huyết thay đổi do cách chế biến
– Chỉ số đường huyết của thực phẩm thay đổi trên từng người, thậm chí cùng một người cũng khác nhau trong từng ngày, do mức đường huyết, sự đề kháng insulin khác nhau ở từng người.
– Thực phẩm được xay xát kỹ, xay nhuyễn, tán nhuyễn, nấu chín nhừ sẽ làm cho chỉ số đường huyết càng tăng. Ví dụ, cà rốt tươi sống có chỉ số đường huyết thấp hơn cà rốt xay sinh tố hay cà rốt nấu chín.
– Cũng là bánh mì nhưng bánh mì thô chứa nhiều chất xơ sẽ làm chậm tăng đường huyết hơn là bánh mì trắng. Bánh mì nâu được xử lý men (cho bánh mềm xốp) nên chỉ số đường huyết lên đến hơn 100.
– Khoai tây nấu chín có chỉ số đường huyết thấp hơn khoai tây chiên, khoai tây nướng.
– Hạt bắp nấu chín nguyên vẹn có chỉ số đường huyết thấp hơn bắp nổ, bột bắp, bánh bột bắp.
– Thực phẩm chứa chất xơ sẽ tiêu hóa chậm nên làm giảm chỉ số đường huyết.
– Khi ăn chung một thực phẩm có chỉ số đường huyết cao và một thực phẩm có chỉ số đường huyết thấp, như vậy sau bữa ăn sẽ có chỉ số đường huyết ở giá trị trung bình.
– Ăn đa dạng thực phẩm trong một bữa ăn (có bột đường, đạm, béo, rau củ) có tác dụng ngăn cản hấp thu đường nhanh nên làm chỉ số đường huyết của bữa ăn giảm đi.
Các bạn có thể tham khảo thêm một số sản phẩm của chúng tôi:
Chủ Nhật, 16 tháng 8, 2015
Me chua cho người nôn nghén, chán cơm khi có thai
dược phẩm phân phối - Phụ nữ nôn nghén khi có thai có thể chắt nước nấu quả me với đường trắng uống 3 lần mỗi ngày, uống trong vài ba ngày liên tiếp...
Đồng bào ở cả 3 miền nước ta rất ưa thích món canh chua lá me non nấu cá mòi, cá trích, cá quả, cá đuối, thát lát, tôm tép, lá me cho vào nước rau muống luộc... làm cho ta duy trì được mức cơm ăn hằng ngày ngon miệng, khỏi khô khát trong những ngày nóng nực, nhất là vùng có gió Lào, gây mệt mỏi chán ăn, suy kiệt. Canh chua me nấu cá là một loại canh không thể thiếu trong mâm cơm hằng ngày của dân các nước vùng nhiệt đới vì nó rất phù hợp với phép ẩm thực dưỡng sinh theo mùa của Đông y (bù nước, điện giải, nhiều vitamin khoáng chất, cung cấp đạm dễ tiêu, vị chua mặn thanh thử giải nhiệt...) để bảo vệ có hiệu quả sức khỏe, phòng được bệnh mùa hè.

Me chua.
Me làm thuốc: Các bộ phận đều dùng làm thuốc, trái me dưỡng can, minh mục, hóa tích, tán bì, sát trùng, thoát nhiệt, chỉ khát. Me làm mát gan, phổi, dạ dày, tiêu thực. Chữa nóng quá sinh phiền khát, đái đỏ sẻn. Chữa nóng rát cổ, ho khản tiếng.
Một số cách dùng thông thường.
Nôn nghén, chán cơm khi có thai.
Quả me 30g, đường trắng 10g, me cạo vỏ cho vào nồi nấu với 300ml nước, đun sôi kỹ còn 200ml, chắt nước bỏ bã. Cho đường quấy đều chia 3 lần uống trong ngày. Uống trong vài ba ngày liên tiếp.
Có thể dùng me ngào, mứt, "ô mai me" cam thảo để ngậm, ăn.
Bệnh gan mật vàng da: Thịt quả me 20-120g pha đường đủ ngọt uống trong ngày. Trẻ em 3 tuổi: 5g, 5 tuổi: 10g, 12 tuổi: 30g. Quả me nghiền nát bỏ xơ. Cứ 50g thịt quả me trộn với 125g đường cho vào 500g đun còn 200g. Quả me cũng có tác dụng lợi mật. Để uống chữa sỏi mật, đồng bào vùng Đồng Tháp Mười dùng hạt me rang vàng xay bột mịn uống với nước đun sôi để nguội.
Trẻ em mùa hè rôm sảy, mẩn ngứa: Lá me nấu nước tắm.
Táo bón: Ăn quả me chín hoặc sắc nước gỗ me uống.
Viêm lợi răng: Vỏ cây me sắc nước đặc ngậm, súc miệng.
Chảy máu ngoài da: Cầm máu bằng rắc bột vỏ cây me hoặc giã đắp.
Tẩy giun: Hạt me rang chín tán bột 190g, 160g bột quả giun (sử quân tử đã bào chế kỹ tránh gây nấc), đường vừa đủ làm viên bằng hạt ngô. Mỗi sáng 3 viên uống 3 sáng liền. Không phải dùng thuốc tẩy.
Viêm kết mạc: Lá me rửa thật sạch đủ để hãm vào cốc nước thật sôi làm thuốc nhỏ mắt, rửa mắt. Nên nhờ người có chuyên môn pha chế!
Bồi dưỡng chữa suy nhược: Vitamin C, B có nhiều ở quả chữa chảy máu chân răng. Vitamin B có nhiều ở búp lá, lá non. Pha nước uống, làm thức ăn hằng ngày.
Theo các tài liệu chuyên đề "Cây thuốc dân gian vùng Caribê" của UNESCO (1984) và sách Những cây họ đậu nhiệt đới nguồn tài nguyên tương lai của Viện Hàn lâm Mỹ (1970) còn nói đến các công dụng khác của me: Vỏ sắc nước chữa hen suyễn..., lá non giã đắp vào chỗ đau của thấp khớp cấp, thịt trái me có hoạt tính chống sỏi thận. Ở Đôminica trong bài thuốc bảo vệ gan, có thành phần của me. Hoa me là nguồn quan trọng để nuôi ong lấy mật, làm thức ăn, thuốc.
Các bạn có thể tham khảo thêm một số sản phẩm của công ty phân phối dược phẩm
Thứ Sáu, 14 tháng 8, 2015
Những thực phẩm tăng cường sự tập trung
phân phối dược phẩm ở đâu - Có những lúc bạn rất cần sự tập trung nhưng tâm trí cứ mơ hồ, phân tán. Những khi ấy, bạn nên nhớ đến những loại thức ăn và nước uống dưới đây để lấy lại tâm trí minh mẫn, sắc bén cho mình

1. Cà phê + quế
Cà phê nổi tiếng về khả năng giúp tỉnh táo và tập trung, và theo một nghiên cứu gần đây, 2-3 tách cà phê mỗi ngày giúp cải thiện trí nhớ lâu dài. Bạn có thể tăng thêm hiệu quả của cà phê bằng cách cho vào vài miếng quế.

Theo 1 nghiên cứu vào năm 2009, chỉ cần mùi của quế đã tăng cảm giác tỉnh táo và giảm ức chế.

2. Trà xanh
Trà xanh chứa L-Theanine, một loại axít amin tăng cường sóng alpha của não (tương tự như khi ngồi thiền), giúp bạn thanh thản và bình tĩnh, tập trung. Trà thích hợp hơn cà phê vào buổi chiều tối, vì ít gây mất ngủ hơn.

3. Ăn sáng đúng đắn
Bữa sáng là bữa ăn quan trọng nhất trong ngày. Bạn có thể dùng bột yến mạch giàu chất xơ và trứng giàu protein để có hiệu quả tốt nhất. Chúng cung cấp năng lượng nhiều hơn các loại bánh ngũ cốc chế biến khác.

4. Các loại quả mọng
Dùng các loại trái cây có màu tối như quả việt quất có thể giúp giảm nguy cơ mắc bệnh Alzheimer.

Vài nghiên cứu còn cho thấy ăn trái cây mọng có thể thực sự tăng cường sự tập trung và trí nhớ đến 5 tiếng đồng hồ. Khả năng này có được nhờ các chất chống oxy hóa giúp tăng cường lưu thông máu lên não, khiến nó xử lý công việc trí tuệ dễ dàng hơn.

5. Socola đen hoặc bột ca cao
Socola đen có tác dụng tăng lưu thông máu lên não, và dùng 100mg socola đen mỗi ngày có thể giúp tránh mất trí tuổi già. Socola còn tăng sản xuất các chất hóa học tạo cảm giác tốt đẹp trong não, giúp bạn không chỉ làm việc nhanh nhẹn hơn mà còn vui vẻ hơn.

6. Nước chanh
Các nghiên cứu thấy rằng thiếu nước cũng làm rối loạn trí nhớ và chức năng não bộ trong thời gian dài. Mùi của chanh giúp tăng cường khả năng hoạt động yêu cầu tập trung cao.

7. Củ cải đường
Loại củ này rất giàu nitrat, chúng sẽ chuyển thành nitrit trong cơ thể giúp tăng cường lưu thông máu đưa oxy đến não.

8. Trà bạc hà
Dù không chứa caffeine, loại trà này có thể giúp bạn tỉnh táo hơn. Các nghiên cứu đã phát hiện rằng mùi bạc hà giúp giảm căng thẳng và mệt mỏi, nâng cao động lực và hiệu suất làm việc.
Các bạn có thể tham khảo thêm một số sản phẩm của công ty phân phối dược phẩm
thuốc bổ canxi cho bé | Thuốc bổ sung vitamin | Thuốc điều trị goutThứ Ba, 11 tháng 8, 2015
Những lý do bạn nên ăn nhiều ổi hơn
trung tâm phân phối dược phẩm - Hàm lượng dinh dưỡng trong 100 gram quả ổi là 68 calo, chứa 14% chất xơ giúp bảo vệ màng nhầy ruột khỏi độc tố toxin; ổi không chứa choresterol.

Ổi (tên khoa học: Psidium guajava) là một loại trái cây nhiệt đới. Những giống ổi khác nhau thường có vỏ xanh nhưng ruột có thể trắng, vàng, hồng, đỏ.

Ổi chứa 9% vitamin B5 (pantothenic) và 9.5% vitamin B6 (pyridoxine). Vitamin B tổng hợp hỗ trợ cơ thể sản sinh các tế bào máu.

Ăn ổi thúc đẩy việc giảm cân. Ổi rất giàu chất xơ giúp điều hòa sự tiêu hóa và sự chuyển hóa của ruột.

Ổi chứa 9% RDA có trong kali. Kali kết hợp với vitamin C rất quan trọng đối với sức khỏe của tim, hỗ trợ kiểm soát huyết áp và nhịp tim.

Theo trang servingjoy.com (Singapore), ăn ổi làm giảm nguy cơ mắc bệnh ung thư, nhất là ung thư tuyến tiền liệt, ung tư vú, ung thư phổi, ung thư da và ung thư vòm họng, vì giàu lycopene, giúp chống oxy hóa.

Ổi cũng là nguồn giàu vitamin A tốt cho mắt và da.

Ổi rất giàu vitamin C, chống oxy hóa và củng cố hệ thống miễn dịch. Vitamin C cũng tái tạo và nuôi dưỡng làn da, điều hòa quá trình sản xuất collagen. Nếu muốn đẹp da, hãy ăn ổi.
Các bạn có thể tham khảo thêm một số sản phẩm của chúng tôi:
Thứ Hai, 10 tháng 8, 2015
Thực phẩm gây nguy cơ sảy thai cho bà bầu
dược phẩm phân phối - Trong quá trình mang thai bà bầu nên chú ý tới vấn đề ăn uống, nguồn dinh dưỡng cho cơ thể. Khi mang thai không phải loại thực phẩm nào bà bầu cũng có thể ăn. Bởi có những loại thực phẩm rất tốt cho sức khỏe nhưng lại tiềm ẩn nguy cơ sảy thai cao đối với các mẹ bầu.
Sản phụ sảy thai vì uống lá rừng và cuộc chạy đua với tử thần
Sẩy thai vì thức 4 đêm liên tiếp xem World Cup
10 điều có thể bạn chưa biết về sẩy thai
Không nên ăn Dứa
Chắc hẳn nhiều mẹ bầu đã “thủ” sẵn kinh nghiệm khi chuẩn bị “vượt cạn” thì uống nước ép dứa cho dễ sinh nở , điều này cũng đồng nghĩa với việc dứa là thực phẩm gây sảy thai khá nguy hiểm mà không phải ai cũng biết đặc biệt trong 3 tháng đầu của thai kỳ, bởi nó chứa bromelain có tác dụng làm mềm, co thắt tử cung, tạo ra chất gây sảy thai. Do đó, trong 3 tháng đầu tiên khi mang thai, mẹ bầu tuyệt đối không nên ăn dứa, uống nước ép dứa nhé, sau đó bạn có thể ăn một lượng nhỏ vì dứa cũng chứa khá nhiều dưỡng chất tốt cho sức khỏe chứ không được ăn nhiều đâu đấy.

Đu đu là thực phẩm gây sảy thai phổ biến
Đã có rất nhiều trường hợp mẹ bầu do thiếu kinh nghiệm trong 3 tháng đầu tiên của thai kỳ lại sử dụng đu đủ xanh hoặc đu đủ chưa chín tới làm nguyên liệu chế biến nên cácmón ănđặc biệt là món giò hầm đu đủ để bồi dưỡng mà không biết rằng đu đủ chính là thực phẩm gây sảy thai phổ biến nhất, nguy hiểm nhất vì trong đu đủ xanh và đu đủ chưa chín tới chứa rất nhiều enzymes và mủ, có thể gây nên sự co thắt tử cung với hậu quả là gây sảy thai. Chính vì vậy, khi mang thai, để đảm bảo an toàn mẹ bầu tuyệt đối không được ăn đu đủ đâu nhé, đặc biệt với đu đủ xanh tỷ lệ nguy hiểm càng tăng lên rất nhiều lần đấy.

Ăn nhãn, vải có thể gây sảy thai
Nhãn, vải là loại trái cây khá phổ biến vào mùa hè, được nhiều chị emphụ nữyêu thích vì hương vị ngọt ngon đặc trưng, không những thế nó còn là nguyên liệu để bạn chế biến nên những món ăn thơm ngon hấp dẫn như chè long nhãn,… Tuy nhiên, đây lại cũng là những loại quả mẹ bầu không nên ăn trong quá trình mang thai bởi vì trong thời gian mang thai, bạn sẽ gặp phải hiện tượng “nóng trong người”, nếu ăn nhiều nhãn, vải là hai loại trái cây có tính nóng thì triệu chứng “nóng trong người” sẽ càng nguy hiểm hơn dẫn đến tình trạng động thai, ra huyết đau bụng, đau tức bụng dưới, thậm chí tổn thương thai khí, có thể gây sảy thai.

Cà phê làm tăng nguy cơ gây sảy thai
Cà phê mặc dù sẽ khiến bạn tỉnh táo hơn, minh mẩn hơn tuy nhiên nó lại không hoàn toàn phù hợp với phụ nữ mang thai đâu nhé, bên cạnh hàm lượng caffein có trong cà phê sẽ gây ra những ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của mẹ bầu và thai nhi, làm rối loạn quá trình phát triển tự nhiên của thai nhi thì cà phê còn là thực phẩm gây sảy thai khá phổ biến mà không phải ai cũng biết, chính vì vậy, để đảm bảo an toàn, trong thời kỳ mang thai mẹ bầu không nên uống cà phê và các loạithực phẩmcó chứa caffein khác nhé.

Rau sam tốt cho sức khỏe nhưng gây sảy thai
Từ lâu rau sam đã nổi tiếng là thần dược của sức khỏe, nó có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, trừ giun cực kỳ hiệu quả, tuy nhiên đây lại là thực phẩm mà mẹ bầu nên tránh đặc biệt trong 3 tháng đầu của thai kỳ bởi nó có thể gây kích thích mạnh đến tử cung và gia tăng tần suất co bóp, chính điều làm tăng nguy cơ gây sảy thai và nhiều tác hại nguy hiểm cho sức khỏe của phụ nữ.
Mang thai không nên ăn củ dền
Nhiều người cho rằng củ dền có màu đỏ sẽ bổ máu và tốt cho thai nhi. Tuy nhiên, đó là màu sắc đặc trưng của loại thực phẩm này, không có liên quan tới việc cấu tạo hồng cầu hay bổ máu ở người. Củ dền có thể gây oxy hóa máu thành methemoglobin, làm hồng cầu mất khả năng vận chuyển oxy gây thiếu máu, nếu nặng có thể dẫn đến sảy thai. Vì vậy phụ nữ mang thai nên tránh ăn củ dền.

Bà bầu không nên ăn măng tươi trong suốt 9 tháng thai kỳ
Trong măng tươi có hàm lượng Cyanide rất cao, khoảng 230mg/kg măng củ. Khi người ăn phải măng có chứa nhiều Cyanide, dưới tác động của các Enzym đường tiêu hóa, Cyanide ngay lập tức biến thành Acid Cyanhydric (HCN), là một chất cực độc với cơ thể.
Trong cơ thể, Cyanide tác động lên chuỗi hô hấp tế bào bằng cách làm bất hoạt các Enzym sắt của Cytocromoxydase hoặc Warburgase, là nguyên nhân gây tình trạng thiếu ôxy tế bào và toan chuyển hóa nặng. Vì vậy mẹ bầu nên cẩn trọng khi ăn măng tươi.
Các bạn tham khảo thêm một số sản phẩm của dược phẩm phân phối:
Thứ Năm, 6 tháng 8, 2015
Tác dụng kháng khuẩn từ tỏi
phân phối dược phẩm ở đâu - Các nhà khoa học Viện Khoa học và Công nghệ Birla (Ấn Độ) cho biết khả năng nước chiết xuất từ tỏi có thể là vũ khí hữu hiệu chống lại các vi khuẩn gây bệnh đường tiết niệu (UTI) kháng với nhiều loại thuốc.
UTI là dạng nhiễm khuẩn phổ biến trên thế giới với khoảng 150 triệu người mắc bệnh mỗi năm và thường được điều trị bằng kháng sinh. Nhóm nghiên cứu cho biết tình trạng kháng thuốc của vi khuẩn khiến họ quay về với cách trị liệu truyền thống. Với tên khoa học là Allium sativum, tỏi đã được y học cổ truyền sử dụng để chữa bệnh do nhiều loại vi khuẩn, nấm, động vật nguyên sinh, virut nhạy cảm với các sản phẩm điều chế từ tỏi. Chất allicin và các thành phần sulphur khác trong củ tỏi được cho là yếu tố kháng khuẩn chủ yếu.

Trong nghiên cứu lần này, các nhà khoa học phát hiện có 56% của 166 dòng vi khuẩn trong nước tiểu bệnh nhân UTI kháng thuốc kháng sinh mức độ cao. Trong khi đó, có đến 82% vi khuẩn kháng kháng sinh có thể bị tổn hại do nước chiết xuất từ tỏi.
Đây chính là bằng chứng hiển nhiên về khả năng trị liệu UTI của tỏi đối với vi khuẩn kháng thuốc. Nghiên cứu sẽ tiếp tục thực hiện với đề tài rộng hơn, chi tiết hơn về hoạt tính, công hiệu, tác dụng lý hóa và khả năng gây tác dụng phụ của tỏi.
Các bạn có thể tham khảo thêm một số sản phẩm của công ty phân phối dược phẩm
Thứ Hai, 3 tháng 8, 2015
Những chất độc có trong thực phẩm mà bạn chưa bao giờ ngờ đến
phân phối dược phẩm ở đâu - Theo các chuyên gia y tế thuộc Viện Dinh dưỡng và Chế độ ăn uống Hoa Kỳ (American Academy of Nutrition và Dietetics), bên cạnh chất béo bão hòa, đường và muối natri, bạn cũng nên tránh tiêu thụ các loại thực phẩm chứa nhiều hóa chất độc hại sau đây:
Organophosphates

Khi ăn rau củ, bạn nên rửa thật sạch để loại bỏ chất organophosphates. Ảnh: flickr.com
Organophosphate là một loại thuốc trừ sâu được dùng phổ biến trong ngành nông nghiệp, chúng có thể gây nguy hiểm cho sức khỏe của con người, đặc biệt là trẻ em.
Một nghiên cứu được công bố trên tạp chí Pediatrics vào năm 2010 cho biết, chất chuyển hóa dialkyl phosphate và chất organophosphates có sự liên quan rất lớn đến chứng rối loạn tăng động (ADHD) ở trẻ em từ 8 - 15 tuổi.
Do đó, khi tiếp xúc với hóa chất này trong thời gian dài, chúng sẽ gây hại cho sức khỏe của trẻ.
Để hạn chế tiếp xúc với chất organophosphates, tốt nhất là bạn nên cho trẻ ăn các loại trái cây, rau củ hữu cơ, và phải rửa thật sạch trước khi ăn.
Nitrates
Hóa chất này được sử dụng để giữ màu sắc và hương vị cho các món thịt cá ướp muối mặn như ba rọi xông khói, xúc xích, jambon...

Các nhà khoa học thuộc trường đại học Harvard cho biết, sử dụng các loại thực phẩm chứa nhiều nitrates có thể góp phần gây bệnh tim, tiểu đường loại 2.
Đó là do khi nitrates được hấp thu vào cơ thể, chúng sẽ gây xơ cứng động mạch, làm giảm dung nạp glucose và có thể gây ung thư ở động vật.
Bạn có thể làm giảm nguy cơ mắc bệnh có liên quan đến nitrates bằng cách chọn thức ăn chưa qua chế biến sẵn, thức ăn không quá mặn và nên dùng các loại thịt hữu cơ bất cứ khi nào có thể.
Thủy ngân
Theo các chuyên gia y tế Mỹ, thủy ngân cũng là một trong những hóa chất có hại cho sức khỏe con người, đặc biệt là với phụ nữ mang thai, phụ nữ đang cho con bú và trẻ em.

Ngộ độc thủy ngân có thể gây ra những rối loạn về cảm giác, làm suy giảm tầm nhìn, yếu cơ và khuyết tật thần kinh ở thai nhi. Để đảm bảo an toàn cho sức khỏe, bạn nên tránh ăn các loại cá chứa nhiều thủy ngân như cá thu lớn, cá ngừ…
Bisphenol A (BPA)
Hóa chất này thường được tìm thấy trong vỏ lon hoặc hộp nhựa đựng thực phẩm. Khi sử dụng những vật đựng bằng nhựa có chứa BPA để làm nóng thức ăn, hóa chất này sẽ tiết ra nhiều hơn.
Chất BPA ít gây ra những mối đe dọa nghiêm trọng cho sức khỏe nếu với số lượng nhỏ. Tuy nhiên, nếu ăn quá nhiều thực phẩm đóng hộp thì nguy cơ mắc bệnh sẽ tăng cao.

Theo Viện Khoa học Sức khỏe và Môi trường quốc gia (Mỹ), khi chất BPA hấp thụ vào cơ thể, chúng sẽ làm rối loạn nội tiết và có thể là tác nhân dẫn đến các bệnh ung thư nội tiết tố như ung thư vú và ung thư tuyến tiền liệt.
Chất BPA cũng có liên quan đến nguyên nhân làm giảm số lượng tinh trùng ở nam giới, gây béo phì, tiểu đường loại 2 và các vấn đề về hệ thống miễn dịch.
Để phòng ngừa các bệnh có liên quan đến chất BPA, các chuyên gia y tế khuyến cáo chúng ta nên hạn chế dùng thức ăn đóng hộp và hâm nóng lại thức ăn chứa trong hộp nhựa.
Arsenic
Chất arsenic (thạch tín) thường hiện diện nhiều trong mạch nước ngầm tự nhiên, từ đó xâm nhập vào nước uống và gây ô nhiễm đất trồng.
Theo tổ chức Y tế thế giới, tiếp xúc lâu dài với chất arsenic có thể gây tổn thương da, thần kinh, bệnh tim mạch, tiểu đường và ung thư da.

Để giảm nguy cơ tiếp xúc với chất arsenic, bạn nên vo gạo thật kỹ, rửa rau củ thật sạch và nấu chín kỹ thức ăn.
Chất tạo màu
Một nghiên cứu được các nhà khoa học thuộc trường đại học Southampton công bố trên tạp chí The Lancet cho biết, chất tạo màu là một trong những yếu tố gây tăng động thái quá ở trẻ em khi các em sử dụng nhiều đồ ăn thức uống chứa chất tạo màu.

Kết quả nghiên cứu này đã thuyết phục được Cơ quan Tiêu chuẩn Thực phẩm của EU kêu gọi một lệnh cấm đối với việc sử dụng một số chất tạo màu (bao gồm chất Blue Dye số 1 và Yellow Dye số 5) khi chế biến thực phẩm.
Các bậc phụ huynh nên bảo vệ sức khỏe của con em mình bằng cách hạn chế cho trẻ ăn nhiều bánh kẹo, thức uống có chứa màu thực phẩm.
Chất ngọt nhân tạo
Chất ngọt nhân tạo trong thực phẩm như aspartame, sucralose, saccharin và acesulfame potassium có thể tạo ra một số tác dụng phụ ngoài ý muốn khi chúng ta sử dụng trong thời gian dài.

Một nghiên cứu được công bố trên tạp chí Sinh học và Y tế Yale vào năm 2010 cho biết, tiêu thụ thực phẩm chứa nhiều chất tạo ngọt sẽ kích thích sự thèm ăn, gây béo phì và bệnh tiểu đường.
Butylated hydroxyanisole (BHA)
Đây là hóa chất được dùng để bảo quản và ổn định chất lượng của thực phẩm chế biến sẵn.
Theo các chuyên gia thuộc Tổ chức bảo vệ Môi trường (EWG), butylated hydroxyanisole (BHA) được đánh giá là mối nguy hiểm lớn đối với sức khỏe người tiêu dùng.
Chúng có thể ảnh hưởng tiêu cực đến hệ thống nội tiết, tác động bất lợi đến cơ quan sinh sản, hệ miễn dịch và chức năng thần kinh.

Các nhà nghiên cứu thuộc trường Đại học California Berkeley Wellness cho biết, những tác động chính xác của chất BHA đối với sức khỏe vẫn được các nhà khoa học nghiên cứu thêm.
Tuy nhiên, để hạn chế đến mức thấp nhất các nguy hại của chất BHA, các nhà khoa học khuyến cáo chúng ta nên tránh sử dụng các loại thực phẩm chứa nhiều chất bảo quản như khoai tây chiên, xúc xích, ngũ cốc đóng hộp, thức ăn chế biến sẵn...
Các bạn có thể tham khảo thêm một số sản phẩm của công ty phân phối dược phẩm
Thứ Ba, 21 tháng 7, 2015
Dinh dưỡng phòng ngừa bệnh tim mạch
công ty phân phối dược phẩm giới thiệu dinh dưỡng phòng ngừa bệnh tim mạch. Những người mắc bệnh tim mạch nên nghiên cứu một chế độ ăn uống đầy đủ hợp lý với thịt và rau để đảm bảo nạp đầy đủ các chất dinh dưỡng. Hôm nay nhathuocviet.vn chia sẽ với các bạn dinh dưỡng phòng ngừa bệnh tim mạch, bạn cần nên biết
Phòng bệnh tim mạch với “cá kho đậu nành”
Theo bác sĩ Quách Tuấn Vinh, trong mỡ cá có chất eicosapentaeoic và docosahe-xanoic acid, được gọi chung là omega-3 chưa no. Các chất này có tác dụng tham gia tích cực vào nhiều khâu của quá trình chuyển hóa lipid trong cơ thể, dầu cá omega-3 có thể giảm bớt nguy cơ tái phát các cơn đau thắt ngực ở bệnh nhân.

Do vậy ăn cá có tác dụng tốt đối với những ai muốn phòng ngừa cũng như đã bị bệnh tim mạch, nhồi máu cơ tim, hen suyễn, tiểu đường, thấp khớp, sỏi thận, loét dạ dày tá tràng… Trong cá còn có nhiều vitamin D, tạo điều kiện cho việc hấp thu calci của cơ thể. Calci có tác dụng phòng chống loãng xương ở người cao tuổi, người ăn cá có lượng cholesterol máu thấp. Ngoài ra, trong cá còn có nhiều kẽm, một vi chất có ích cho sức khỏe con người, phòng chống được u xơ tiền liệt tuyến ở người cao tuổi.
Giảm đau tim bằng dầu ô-liu
Theo một nghiên cứu mới nhất, chỉ cần ăn hai thìa dầu ô-liu mỗi ngày là có thể giảm được 50% nguy cơ đau tim, nếu ăn một thìa thì giảm được 28%. Đây là kết quả nghiên cứu đăng trên tạp chí y khoa Mỹ sau cuộc điều tra được thực hiện trên 41.000 người lớn trong vòng 20 năm qua.

Tuy nhiên, người ta cũng phát hiện ra rằng dầu ô-liu chỉ có tác dụng giảm nguy cơ bệnh tim, chứ không có tác dụng đối với bệnh ung thư.
Kết quả nghiên cứu này cho thấy dầu ô-liu, thành phần chủ yếu trong bữa ăn giàu cá, hoa quả và rau đóng vai trò quan trọng trong việc ngăn ngừa bệnh tim mạch.
Dùng sô-cô-la đen làm giảm nguy cơ bệnh tim
Sô-cô-la đen giàu khoáng chất, tốt cho tinh thần, chống nhăn, chống cháy nắng… Ngoài ra, nó còn có tác dụng bảo vệ trái tim của chúng ta. Các chất flavonoid có trong sô-cô-la đen đóng một vai trò quan trọng trong việc ngăn ngừa bệnh tim mạch. Nhiều nghiên cứu đã nêu ra khả năng này. Mới gần đây nhất là một nghiên cứu của Australia bởi các nhà nghiên cứu tại Đại học Melbourne.

Nhờ đó, chúng ta biết được rằng ăn 100 gram sô-cô-la đen mỗi ngày trong ít nhất 10 năm sẽ mang lại lợi ích đáng kể trong việc giảm nguy cơ đau tim và đột quỵ (CVA). Một kết quả làm cho nhiều người phải ngỡ ngàng khi vẫn đinh ninh rằng thói quen ăn sô-cô-la làm tăng nguy cơ béo phì và đó chính là một yếu tố gây đột quỵ.
Để đi tới kết luận này, các nhà khoa học Australia đã quan sát 2.013 bệnh nhân có nguy cơ cao mắc bệnh tim liên quan đến chứng tăng huyết áp hoặc dư thừa sô-cô-la. Qua thí nghiệm, các nhà khoa học tính ra được một lượng nhỏ sô-cô-la đen 60% hoặc 70% cacao tiêu thụ mỗi ngày có thể ngăn chặn 70 biến cố tim mạch không gây tử vong và 15 biến cố gây tử vong tim mạch trên 10.000 người tiêu dùng. Tất cả được thử nghiệm trong 10 năm.
Bên cạnh đó, sô-cô-la đen còn góp phần làm giảm tỉ lệ cholesterol xấu (LDL) có trong máu và duy trì độ đàn hồi các thành mạch máu của cơ thể.
Các bạn có thể tham khảo một số sản phẩm của công ty phân phối dược phẩm
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)





